Vọng phu

Học thuật
Thân thiện
Vọng phu

Một người phụ nữ đứng trên núi Vọng phu, ôm con và ngóng trông chồng.

Định nghĩa
  1. Danh từ:
    • Tên gọi một ngọn núi tảng đá giống hình người đàn bà đứng trông chồng: "Vọng phu" tên riêng của một ngọn núi, gắn liền với truyền thuyết về người phụ nữ chờ chồng hóa đá.
    • Biểu tượng cho sự chung thủy, sự chờ đợi mòn mỏi của người vợ: Từ này còn mang nghĩa biểu tượng, chỉ sự chờ đợi, thủy chung son sắt của người phụ nữ có chồng đi xa.
dụ sử dụng
  • Danh từ:
    • Núi Vọng PhuThanh Hóa một thắng cảnh nổi tiếng. (Ngọn núi Vọng PhuThanh Hóa một danh lam thắng cảnh nổi tiếng.)
    • Truyền thuyết về Vọng phu câu chuyện cảm động về lòng chung thủy. (Truyền thuyết về Vọng phu một câu chuyện cảm động về lòng chung thủy.)
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Hóa đá vọng phu": cụm từ chỉ sự chờ đợi đến mức hóa thành đá, biểu tượng cho sự chờ đợivọng, thủy chung tuyệt đối.
    • Câu chuyện người vợ hóa đá vọng phu khiến ai nghe cũng xúc động. (Câu chuyện người vợ hóa đá chờ chồng khiến ai nghe cũng xúc động.)
Biến thể từ gần giống
  • Vọng phu thạch (danh từ): tảng đá hình người đàn bà trông chồng, hiện thân của truyền thuyết.
    • Vọng phu thạch trên đỉnh núi in hình bóng một người phụ nữ ôm con. (Tảng đá Vọng phu trên đỉnh núi in hình bóng một người phụ nữ ôm con.)
  • Vọng phu san (danh từ): tên gọi khác của núi Vọng phu, xuất hiện trong thơ ca cổ điển.
    • "Bất kham trùng thượng vọng phu san" câu thơ nổi tiếng. ("Không thể trèo lên núi Vọng phu lần nữa" một câu thơ nổi tiếng.)
Từ đồng nghĩa
  • Đá trông chồng: cách gọi dân gian, mô tả trực tiếp hình tượng.
  • Núi Chờ: tên gọi khác mang tính biểu tượng tương tự.
Thành ngữ liên quan
  • Đứng núi này trông núi nọ: thành ngữ ý so sánh ngược lại, chỉ sự không chung thủy, thấy cái mới thì bỏ cái , trái ngược với hình tượng thủy chung của "vọng phu".
    • Anh ta kẻ "đứng núi này trông núi nọ", đừng tin tưởng. (Anh ta kẻ không chung thủy, đừng tin tưởng.)
Vọng phu

Một người phụ nữ đứng trên núi Vọng phu, ôm con và ngóng trông chồng.

  1. Tên núi đá trông giống hình người đàn bà đứng (trông chồng). Theo một chuyện cổ phổ biếnnước ta, các tỉnh Thanh Hóa, Lạng Sơn, Bình Định đều núi Vọng Phu
  2. Chuyện cổ kể rằng: Xưa kia, một hôm, hai anh em ruột đang cùng ăn mía rồi đâm ra cãi cọ đuổi đánh nhau, người anh nổi giận lấy con dao đang cầm róc míatay ném em. Con dao trúng vào đầu, máu chảy lênh láng. Người anh hoảng sợ bỏ trốn biệt tích. Người em gái được cứu sống rồi lớn lên buồn nỗi mất anh cũng bỏ làng đi làm ăn nơi khác. Hơn 20 năm sau, hai anh em tình cờ gặp lại nhau vẫn không nhận ra. Tạo hóa trớ trêu, họ lại yêu nhau kết nghĩa vợ chồng. Họ sinh được một con. Một hôm, cùng cuốc đất trồng mía, nhễ nhại mồ hôi, ngồi nghĩ, chồng lau trán cho vợ nhận ra trên trán vợ sát mái tóc một vết sẹo dài, hỏi căn do, chị vợ bùi ngùi kể lại đầu đuôi câu chuyện buồn thảm từ thời thơ ấu. Anh chồng nghe xong, bàng hoàng nhận ra sự thật, anh hối hận, đau khổcùng về nỗi bất hạnh của mình bèn quyết định bỏ vợ con trốn đi không một lời nhắn lại... Người vợnhà ngày ngày ngóng trông chồng không biết duyên cớ tại sao chồng bỏ đi biệt tích. Nàng ẳm con lên núi đứng trông chồng, cuối cùng mõi mòn hóa thành đá
  3. Vọng phu san: Nghiêm Quân Phu lấy vợ Bàng Thị 10 năm không con, chàng bèn rẫy bỏ. Thị làm bài thơ để từ giã rằng: "Đương thời tâm sựtương quan, tán vân thu nhất sướng gian, Tiên thị phàm tòng thử khứ, bất kham trùng thượng vọng phu san". Chàng cảm động, vợ chồng lạivới nhau như

Từ gần giống

Từ chứa "Vọng phu"